Từ phơi nhiễm khí hậu đến rủi ro sức khỏe đối với lao động tự do ngoài trời

Nắng nóng, mưa lớn hay ngập lụt không chỉ là những hiện tượng thời tiết mà những người mưu sinh trên đường phố thường xuyên phải đối mặt. Khi công việc đòi hỏi phải ở ngoài trời nhiều giờ mỗi ngày, các hiện tượng khí hậu cực đoan có thể đồng thời tạo sức ép lên sức khỏe, khả năng làm việc, thu nhập và khả năng tiếp cận chăm sóc y tế.

Ngày 14/8/2026, Tổng hội Y học Việt Nam phối hợp với Viện Phát triển Sức khỏe Cộng đồng Ánh sáng (LIGHT), và Viện Y học Ứng dụng Việt Nam (VIAM) tổ chức “Hội thảo quốc gia về báo cáo kết quả nghiên cứu Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe người lao động tự do làm việc ngoài trời tại các thành phố lớn ở Việt Nam”. Đại diện Trung tâm Truyền thông và Chăm sóc sức khỏe (CCHC) tham dự hội thảo và ghi nhận những kết quả có ý nghĩa đối với chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Thay vì chỉ nhìn biến đổi khí hậu như một vấn đề môi trường, các kết quả được trình bày tại hội thảo đặt ra một câu hỏi gần gũi hơn: Điều gì xảy ra với sức khỏe của một người khi sinh kế của họ phụ thuộc vào việc phải tiếp tục làm việc ngoài trời trong những ngày nắng nóng, mưa lớn hoặc thời tiết khắc nghiệt?

Người lao động ngoài trời: nhóm phơi nhiễm trực tiếp với các nguy cơ khí hậu 

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Việt Nam hiện có khoảng 33 triệu lao động phi chính thức. Đây là một nhóm rất rộng, trong đó có những người bán hàng rong, lái xe ôm hoặc giao hàng, bốc vác, vận chuyển, xây dựng, vệ sinh, thu gom phế liệu và nhiều nghề khác. Số liệu của cơ quan thống kê cũng cho thấy lao động phi chính thức tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động Việt Nam. Tuy nhiên, cần phân biệt rằng lao động phi chính thức nói chung không đồng nghĩa hoàn toàn với nhóm lao động tự do làm việc ngoài trời được khảo sát trong nghiên cứu này.

PGS.TS Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, phát biểu tại buổi hội thảo.

Khảo sát được công bố tại hội thảo thực hiện trên 1.208 lao động tự do ngoài trời tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, thuộc các nhóm nghề như bán hàng rong/bán vé số, xe ôm/giao hàng, bốc vác/vận chuyển và xây dựng. Thời gian làm việc trung bình được ghi nhận là 55,3 giờ mỗi tuần. Trong mẫu 1.208 người lao động được khảo sát, trong 12 tháng trước thời điểm khảo sát, 95,4% cho biết từng tiếp xúc với nắng nóng gay gắt; 71% với mưa lớn; 38,7% trải qua ngập lụt và 38,7% tiếp xúc với giông bão có sức gió từ cấp 8 trở lên. Hơn một nửa số người được khảo sát thường xuyên đối mặt đồng thời với từ 6 đến 10 yếu tố nguy cơ.

Những con số này cho thấy một đặc điểm quan trọng của sức khỏe nghề nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu: rủi ro thường không xuất hiện riêng lẻ. Một người giao hàng chẳng hạn có thể vừa chịu nhiệt độ cao, bức xạ mặt trời và ô nhiễm không khí, vừa phải di chuyển lâu trên đường, duy trì tư thế kéo dài và đối mặt nguy cơ tai nạn khi mưa lớn. Vì vậy, khi đánh giá sức khỏe của người lao động ngoài trời, không thể tách hoàn toàn yếu tố khí hậu khỏi điều kiện lao động, tuổi, bệnh nền, thời gian làm việc và hoàn cảnh kinh tế – xã hội.

Không chỉ là cảm giác “nóng và mệt”

Trong mẫu khảo sát, 68,5% người tham gia báo cáo có ít nhất một triệu chứng cơ – xương – khớp sau ngày làm việc trong tháng gần nhất; 23,7% ghi nhận vấn đề hoặc triệu chứng hô hấp; 13,1% có biểu hiện liên quan đến da và 12,2% có vấn đề liên quan tiêu hóa. Về sức khỏe tinh thần, đánh giá bằng thang tự báo cáo DASS-21 cho thấy 32,8% người tham gia có điểm số lo âu và 17,8% có điểm số căng thẳng từ ngưỡng nhẹ trở lên. DASS-21 là công cụ đánh giá mức độ triệu chứng, không phải công cụ xác lập chẩn đoán rối loạn lo âu hay các rối loạn tâm thần. 

Các số liệu trên phản ánh những vấn đề được ghi nhận trong mẫu khảo sát, không phải tỷ lệ bệnh của toàn bộ lao động tự do ngoài trời tại Việt Nam. Quan trọng hơn, các dữ liệu khảo sát này tự thân không đủ để kết luận rằng biến đổi khí hậu là nguyên nhân trực tiếp gây ra từng triệu chứng hoặc vấn đề sức khỏe được ghi nhận. Sức khỏe người lao động còn chịu tác động đồng thời của cường độ và thời gian lao động, điều kiện nghề nghiệp, tuổi, bệnh nền, môi trường sống và nhiều yếu tố kinh tế – xã hội khác. 

TS.BS Nguyễn Thu Giang, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện LIGHT – đại diện Ban quản lý nghiên cứu, chia sẻ tại buổi hội thảo.

TS.BS Nguyễn Thu Giang, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện LIGHT và đại diện Ban quản lý nghiên cứu, cũng nhấn mạnh tại hội thảo rằng vấn đề không chỉ nằm ở khí hậu mà còn ở những thay đổi trong điều kiện lao động, qua đó làm gia tăng đồng thời rủi ro sức khỏe và sinh kế.

Dù vậy, mối nguy từ nhiệt đối với người lao động đã có nền tảng khoa học quốc tế khá vững chắc. WHO và WMO mô tả stress nhiệt nghề nghiệp là tình trạng cơ thể tích lũy nhiệt do tác động phối hợp của nhiệt sinh ra trong quá trình lao động, điều kiện môi trường và quần áo. Khi cơ thể không thể thải nhiệt đủ hiệu quả, người lao động có thể xuất hiện mất nước, chóng mặt/ngất, kiệt sức do nóng và trong trường hợp nghiêm trọng là sốc nhiệt. ILO cũng xác định nhiệt độ quá cao là một nguy cơ an toàn và sức khỏe nghề nghiệp quan trọng, đặc biệt đối với những công việc ngoài trời và lao động thể lực.

Điều đó giúp lý giải vì sao câu chuyện sức khỏe của lao động ngoài trời không nên được giản lược thành việc “chịu nóng tốt hay không”. Cùng một điều kiện thời tiết, mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc cường độ lao động, thời gian phơi nhiễm, độ ẩm, khả năng nghỉ ngơi và làm mát, tuổi, thể trạng, bệnh nền cũng như khả năng tiếp cận các biện pháp bảo vệ. WHO đặc biệt lưu ý người làm việc ngoài trời, người trung niên hoặc cao tuổi và người có bệnh mạn tính là những nhóm cần được quan tâm trong các chương trình phòng ngừa stress nhiệt nghề nghiệp.

Biết nguy cơ nhưng không phải ai cũng có điều kiện để giảm phơi nhiễm 

Một trong những kết quả đáng chú ý nhất của nghiên cứu không nằm ở mức độ nhận thức mà ở khoảng cách giữa nhận thức và khả năng hành động.

Trong mẫu khảo sát, 89,4% người lao động cho biết nhận thấy những thay đổi bất thường/cực đoan của thời tiết và 86,1% cho biết rất quan tâm đến biến đổi khí hậu. Khi trời nóng, nhiều người chủ động sử dụng mũ, nón, khăn che; uống nước hoặc tìm nơi râm mát. Tuy nhiên, chỉ 19,1% cho biết có thể tạm ngừng làm việc khi nắng nóng gay gắt và chỉ 1,4% có khả năng chuyển sang công việc ít chịu ảnh hưởng hơn.

Đây là điểm giúp thay đổi cách nhìn về “khả năng thích ứng”. Với một người có thu nhập ổn định, tránh làm việc lúc nóng nhất có thể là một lựa chọn phòng ngừa. Nhưng với người có thu nhập phụ thuộc trực tiếp vào số giờ chạy xe, số chuyến hàng hay số ngày có việc, giảm thời gian phơi nhiễm đồng nghĩa với giảm thu nhập. Vì vậy, “biết nguy hiểm” chưa chắc đã dẫn đến “có thể tránh nguy hiểm”.

Nghiên cứu cũng cho thấy 73,5% người được khảo sát có bảo hiểm y tế và 2,2% tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Trong nhóm không đi khám khi gặp vấn đề cơ – xương – khớp, 52,6% cho biết phải đi làm và không có thời gian, 26,3% nêu khó khăn tài chính, còn 21% cho rằng vấn đề sức khỏe chưa nghiêm trọng.

Như vậy, chi phí của việc đi khám đôi khi không chỉ là tiền khám chữa bệnh. Với lao động tự do, một buổi nghỉ để đến cơ sở y tế còn có thể đồng nghĩa với khoản thu nhập không kiếm được trong ngày hôm đó. Đây là lý do sức khỏe, sinh kế và an sinh xã hội cần được nhìn nhận trong cùng một bức tranh.

Người lao động đang cần gì?

Nhu cầu mà những người tham gia khảo sát đưa ra khá cụ thể. Có 78% mong muốn được hỗ trợ tham gia hoặc duy trì bảo hiểm y tế; 76,2% muốn được hỗ trợ chi phí chăm sóc sức khỏe tại tuyến y tế cơ sở; 71,1% mong có các điểm nghỉ công cộng tránh nắng, mưa; 62,6% mong được hỗ trợ tham gia bảo hiểm xã hội và 49% muốn có cơ hội chuyển sang công việc ít chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu.

Đáng chú ý, trong khi gần một nửa mong có cơ hội chuyển đổi công việc, chỉ 1,4% cho biết thực tế có khả năng chuyển sang công việc khác khi đối mặt với nắng nóng. Khoảng cách này gợi ý rằng khả năng thích ứng không thể chỉ được đánh giá bằng việc một người “có biết cách bảo vệ mình hay không”, mà còn phụ thuộc vào nguồn lực và các lựa chọn thực tế mà họ có.

Khoảng trống không chỉ nằm ở y tế

Một phần quan trọng khác của nghiên cứu là rà soát chính sách. Theo nhóm nghiên cứu, trong 45 văn bản pháp luật/chính sách được phân tích, chưa có văn bản nào đồng thời tích hợp cả ba nội dung: thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp và an sinh xã hội dành cho lao động tự do ngoài trời.

TS.BS Trương Hồng Sơn, Phó Tổng Thư ký Tổng hội Y học Việt Nam, Viện trưởng Viện Y học Ứng dụng Việt Nam, cho rằng hệ thống chính sách đối với lao động hiện vẫn tập trung nhiều vào các nguy cơ nghề nghiệp truyền thống, trong khi các nguy cơ mới hoặc ngày càng gia tăng do biến đổi khí hậu chưa được tích hợp đầy đủ đối với nhóm lao động tự do ngoài trời. 

TS.BS Trương Hồng Sơn, Phó Tổng Thư ký Tổng hội Y học Việt Nam, Viện trưởng Viện Y học Ứng dụng Việt Nam

TS Vũ Ngọc Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chương trình Biến đổi khí hậu tại NatCen, cũng lưu ý rằng nhiều cơ chế bảo vệ hiện nay vẫn được xây dựng trên mô hình quan hệ lao động chính thức, có hợp đồng và nơi làm việc tương đối cố định.

Điều này đặc biệt đáng lưu ý với người bán hàng rong, tài xế công nghệ hay người bốc vác: “nơi làm việc” của họ có thể là vỉa hè, tuyến phố, công trường hoặc nhiều tuyến đường khác nhau trong một ngày. Một mô hình bảo vệ sức khỏe chỉ dựa trên khái niệm nơi làm việc cố định vì thế có thể khó tiếp cận đầy đủ những người có mức phơi nhiễm cao nhất.

Từ kết quả nghiên cứu đến những giải pháp thực tiễn

Nhóm nghiên cứu đề xuất trước hết cần nhận diện rõ lao động tự do ngoài trời như một nhóm dễ bị tổn thương trong các chiến lược và chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời xây dựng hướng dẫn bảo vệ sức khỏe trước nắng nóng, mưa bão, ngập lụt và các nguy cơ môi trường liên quan. Việc tăng khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khỏe ban đầu và y tế dự phòng cũng được xác định là một hướng ưu tiên.

Ở cấp độ đô thị và cộng đồng, một trong những đề xuất được nhóm nghiên cứu đưa ra là thí điểm các điểm nghỉ tránh nóng, tránh mưa tại những khu vực tập trung nhiều lao động ngoài trời, kết hợp nước uống, thông tin cảnh báo sớm và hỗ trợ sơ cứu. Hội thảo cũng đề cập đề xuất thí điểm mô hình “Trạm y tế thích ứng biến đổi khí hậu và thân thiện với lao động tự do ngoài trời”, kết nối truyền thông sức khỏe, tư vấn, sơ cứu, khám lưu động, BHYT/BHXH và chuyển tuyến khi cần. Đây hiện là đề xuất của nhóm nghiên cứu, không phải một mô hình đã được triển khai phổ biến.

Các đề xuất này tương đồng với định hướng quốc tế. WHO và WMO khuyến nghị xây dựng các chương trình hành động về nhiệt tại nơi làm việc phù hợp với khí hậu địa phương, loại công việc và nhóm lao động; tăng cảnh báo sớm, giáo dục nhận biết nguy cơ và tạo điều kiện để người lao động có thể thực sự giảm phơi nhiễm. ILO cũng nhấn mạnh rằng bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp trước nhiệt độ cao cần được tích hợp vào chính sách khí hậu và an toàn lao động, thay vì chỉ xử lý khi đã xảy ra các đợt nắng nóng nghiêm trọng.

Người lao động ngoài trời có thể chủ động điều gì ngay lúc này?

Trong khi các giải pháp hệ thống cần thời gian để hình thành, những biện pháp cơ bản vẫn có ý nghĩa trong việc giảm nguy cơ do nhiệt. WHO khuyến cáo theo dõi cảnh báo nắng nóng chính thức; giảm hoặc tránh hoạt động thể lực nặng vào thời điểm nóng nhất trong ngày khi điều kiện công việc cho phép; ưu tiên nghỉ tại nơi có bóng râm hoặc mát; uống nước đều đặn; sử dụng trang phục nhẹ, thoáng và chú ý những dấu hiệu cơ thể bất thường khi làm việc trong môi trường nóng.

Nếu xuất hiện các biểu hiện nghiêm trọng như rối loạn ý thức, co giật hoặc bất tỉnh trong điều kiện nắng nóng, cần coi đây là tình huống cần được hỗ trợ y tế khẩn cấp. Người lớn tuổi, người có bệnh mạn tính như bệnh tim mạch, hô hấp, thận hoặc đái tháo đường, cũng như người đang sử dụng một số thuốc có thể ảnh hưởng đến khả năng thích nghi với nhiệt, cần chú ý hơn và trao đổi với nhân viên y tế khi cần tư vấn cá nhân hóa. 

Tuy nhiên, điều quan trọng là không biến những khuyến nghị cá nhân thành toàn bộ giải pháp. Một người có thể biết rằng cần nghỉ khi quá nóng, nhưng nếu nghỉ đồng nghĩa với mất nguồn thu của cả ngày thì khả năng thực hiện lời khuyên đó sẽ rất khác. Bằng chứng được trình bày tại hội thảo cho thấy bảo vệ sức khỏe người lao động ngoài trời cần đi xa hơn việc yêu cầu mỗi cá nhân tự thích ứng.

Toàn cảnh buổi hội thảo.

Biến đổi khí hậu cuối cùng là một vấn đề sức khỏe cộng đồng

Các kết quả được trình bày tại hội thảo gợi ra một vòng bất lợi có thể xảy ra: mức phơi nhiễm khí hậu và môi trường cao có thể đi cùng sức ép lên sức khỏe và khả năng làm việc; trong khi áp lực thu nhập lại có thể hạn chế khả năng nghỉ ngơi, đi khám hoặc chuyển đổi công việc, khiến người lao động khó giảm phơi nhiễm. Những mối liên hệ này cần tiếp tục được nghiên cứu theo thời gian để làm rõ mức độ và quan hệ nhân quả. Đây là vòng tương tác giữa sức khỏe và sinh kế, chứ không đơn thuần là câu chuyện một người phải chịu nóng trong vài giờ.

Vì vậy, TS.BS Nguyễn Thu Giang nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển từ cách giải quyết từng vấn đề riêng lẻ sang một cách tiếp cận kết nối giữa biến đổi khí hậu, y tế, an toàn vệ sinh lao động và an sinh xã hội. Việc nhận diện rõ lao động tự do ngoài trời trong chính sách có thể là điểm khởi đầu để các cơ chế bảo vệ sức khỏe đi tới đúng những nơi họ đang sống và mưu sinh.

Với cộng đồng, thông điệp từ nghiên cứu cũng rất cụ thể: biến đổi khí hậu không chỉ hiện diện trong những báo cáo về nhiệt độ trung bình hay các hiện tượng thời tiết cực đoan. Nó còn hiện diện trong sức khỏe, thời gian làm việc và lựa chọn sinh kế của những con người mà chúng ta gặp mỗi ngày trên đường phố.

Bảo vệ họ vì thế không chỉ là một chính sách lao động hay một nhiệm vụ của ngành y tế. Đó là một phần của việc xây dựng những đô thị có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu mà không để những người có ít lựa chọn nhất phải gánh phần lớn rủi ro.

Bài: Ngọc Phạm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *